Tên đề tài: 
Đánh giá chất lượng nguồn lao động, tình hình sử dụng, phân công lao động nông thôn ở An Giang
Chủ nhiệm đề tài: 
ThS. Trần Thị Kim Liên
Tình trạng: 
ĐNT
Cơ quan chủ trì: 
Trung tâm Nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân văn
Cơ quan quản lý: 
Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh An Giang
Cấp quản lý: 
Tỉnh
Thời gian thực hiện: 
3/2017 - 02/2020
Năm hoàn thành báo cáo: 
2020
Lĩnh vực: 
Xã hội học
Tóm tắt: 

Trên cơ sở mục tiêu đánh giá chất lượng nguồn lao động, tình hình sử dụng, phân công lao động và đề xuất các giải pháp phát triển nguồn lao động, sử dụng và phân công lao động trên địa bàn tỉnh An Giang, nghiên cứu đã phân tích các cơ sở lý luận chất lượng nguồn lao động và tình hình sử dụng, phân công, phân bố lao động tỉnh An Giang. Từ cách tiếp cận hệ thống ngành, dựa vào khu vực, quan điểm phát triển kinh tế, tiếp cận mô hình nội sinh và liên ngành, mô hình phân tích SWOT nhận diện những tồn tại, hạn chế nguồn lao động, bên cạnh, nghiên cứu cũng đã làm rõ các khái niệm để làm cơ sở phân tích thực trạng chất lượng nguồn lao động, tổng hợp kinh nghiệm của các quốc gia tương đồng với Việt Nam để có góc nhìn đa chiều trong phân tích cũng như đề xuất các giải pháp…, tìm ra được những yếu kém, tồn tại và những vấn đề cốt lõi cần phải phát triển nguồn lao động nông thôn trong thời gian tới. Một số phát hiện chính của nghiên cứu đó là:

Một là, hiện trạng nguồn lao động nông thôn hiện nay ở An Giang còn những vấn đề cần quan tâm: chất lượng nguồn lao động nông thôn An Giang phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật; Kết quả khảo sát tại các địa bàn cho thấy, trong số 3.891 người từ 15 tuổi trở lên ở các hộ gia đình, tỷ lệ biết chữ là 85,7%. Đáng chú ý, tỷ lệ biết chữ ở nhóm lao động nữ thấp hơn đáng kể so với nhóm lao động nam (83% so với 88,6%). Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ ở khu vực nông thôn có xu hướng tỷ lệ nghịch với độ tuổi. Ở nhóm tuổi càng cao (đặc biệt là nhóm tuổi từ 41 trở lên), tỷ lệ biết chữ càng giảm.

Số liệu khảo sát lao động 15 tuổi trở lên ở các hộ gia đình trong mẫu nghiên cứu cũng cho thấy, tỷ lệ lao động nữ chưa qua đào tạo ở các địa bàn khảo sát khá cao với 73,1%, trong khi lao động nam là 64,7%. Đáng chú ý, có sự khác biệt giới đáng kể về tỷ lệ lao động đã qua đào tạo. Tỷ lệ lao động nữ 15 tuổi trở lên chưa qua đào tạo cao hơn 8,4 điểm % so với tỷ lệ của lao động nam. Trong khi đó, tỷ lệ lao động nữ được đào tạo (kể cả được cấp chứng chỉ và không được cấp chứng chỉ) đều thấp hơn so với tỷ lệ của lao động nam, số liệu này phù hợp với khảo sát của nghiên cứu như đã đề cập ở trên.

Trình độ chuyên môn của lao động cũng có sự khác biệt đáng kể theo nhóm tuổi. Xét trình độ chuyên môn của lao động 15 tuổi trở lên theo nhóm tuổi người lao động cho thấy, lao động ở độ tuổi dưới 40 có trình độ chuyên môn cao hơn so với nhóm tuổi cao hơn. Số liệu khảo sát thu được cho thấy, tỷ lệ được đào tạo nghề (ở các hình thức khác nhau) ở nhóm lao động dưới 30 tuổi là 41,6%, ở nhóm tuổi từ 31-40 tuổi là 44,3%. Trong khi đó, tỷ lệ được đào tạo nghề ở nhóm tuổi 41-50 là 21,8%, nhóm tuổi trên 50 chưa đến 20%. Tịnh Biên và huyện đầu nguồn An Phú có tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết thấp so với mặt bằng chung của tỉnh. Nghiên cứu cũng khẳng định đây là một rào cản không nhỏ để người lao động ở khu vực nông thôn An Giang, nhất là vùng biên giới, miền núi tiếp cận đến các cơ hội đào tạo, giáo dục nghề nghiệp trong thời gian tới nếu không có các định hướng chiến lược can thiệp.

Hai là, trình độ kiến thức và kĩ năng nghề của lao động đóng vai trò cực kì quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đáng chú ý là, tại các địa bàn khảo sát, hai nhóm tuổi có tỷ lệ lao động làm các công việc phi chính thức cao nhất ở độ tuổi từ 15 tới 24 (chiếm 70%) và độ tuổi từ 55 tới 59 trở lên (chiếm 63%). Các việc làm của khu vực này thường bấp bênh và thiếu ổn định, thu nhập thấp và thời gian làm việc dài. Nhóm lao động này thường không có hợp đồng lao động và khả năng được đóng bảo hiểm xã hội rất hạn chế. Tỷ lệ nhóm tuổi từ 15-30 đã qua đào tạo nghề ngắn hạn và đang tìm việc làm tại các địa bàn khảo sát ở Châu Thành có 18,36%, Châu Đốc có 15,43%, Tịnh Biên 15,43%, Thoại Sơn có 16,25% và An Phú là 19,12%.

Nguyên nhân lao động trong độ tuổi từ 15-30 ở địa bàn nông thôn An Giang, đặc biệt tại các địa bàn vùng sâu như Tịnh Biên, An Phú chưa có việc làm hoặc đang tìm việc là do: trình độ học vấn thấp nên không có cơ hội để có việc làm (56,6%), không có đất để sản xuất, kinh doanh (46,1%), thiếu kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh (22,5%), thiếu thông tin về thị trường lao động (33,3%), khó tiếp cận các nguồn vốn (32,3%). Nguồn lao động nông thôn ở An Giang làm công việc giản đơn chiếm tỷ lệ cao với 40,7%. Lao động có kỹ năng trong lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm 10,3%. Lao động có kỹ năng trong lĩnh vực nông nghiệp có tỷ lệ thấp hơn với 6,5%. Điều đó đặt vấn đề đáng quan tâm là lao động không có kỹ năng đang chủ yếu làm việc ở hình thức dễ bị tổn thương, chất lượng việc làm thấp. 

Ba là, điểm mạnh của lực lượng lao động ở An Giang hiện nay là từ 2015-2017, chỉ số HDI của tỉnh An Giang đều cao hơn so với chỉ số HDI của cả nước khoảng 0,02 điểm, sự tuân thủ chủ trương, pháp luật của Nhà nước. Các yếu tố liên quan đến sức khỏe, ngoại hình, sự nhanh nhẹn và thích ứng với công việc, có tinh thần trách nhiệm và kỷ luật tốt trong lao động được người lao động đánh giá ở thang điểm trung bình từ 3,1 đến 3,3, ở mức khá. Điểm yếu nhất mà người lao động tự nhận là năng lực về tin học với thang điểm trung bình là 2,0 (mức trung bình) và năng lực về ngoại ngữ với thang điểm trung bình là 1,6 (ở mức dưới trung bình). Người lao động cũng tự nhận khả năng định hướng nghề nghiệp rõ ràng và ý thức nâng cao trình độ, kỹ năng cũng chỉ ở mức trung bình khá. Xem xét các chỉ số thành phần của HDI chỉ số tuổi thọ và giáo dục có sự dao động tương đối ít.

Đối với kỹ năng của người lao động theo nhóm được đào tạo và không được đào tạo nhóm có trình độ đại học trở lên tự đánh giá năng lực ngoại ngữ ở thang điểm 2,6 (mức trung bình khá), trong khi điểm trung bình tự đánh giá của nhóm lao động chưa qua đào tạo là 1,4 (mức trung bình kém). Hoặc điểm trung bình đánh giá về ý thức nâng cao trình độ/ kỹ năng của nhóm lao động có trình độ đại học trở lên là 3,7 điểm (mức khá tốt), của nhóm không được đào tạo nghề là 2,4 (mức trung bình khá). 

Bốn là, đối với hiện trạng sử dụng, phân công, phân bố lao nguồn lao động và nguồn lao động có chất lượng được phân bố không đồng đều giữa các vùng của An Giang. Huyện Châu Thành và thành phố Long Xuyên là hai địa phương có tập trung nhiều lao động làm việc trong các doanh nghiệp. Các địa phương như huyện An Phú, huyện Tịnh Biên dường như ít thu hút lao động đến làm việc. Cụ thể 70,1% lao động có kỹ năng trong lĩnh vực nông nghiệp tập trung trong các doanh nghiệp ở thành phố Long Xuyên. Trong khi tỷ lệ này ở các huyện chỉ chiếm dưới 5%, lao động giản đơn phân bố khá đồng đều ở cả khu vực nông thôn và thành thị nhưng ở nông thôn cũng chỉ tập trung nhiều ở huyện Châu Thành.

Tại các địa bàn khảo sát, nhóm lao động chưa qua đào tạo hoặc được đào tạo nhưng không có chứng chỉ có tỷ lệ làm việc theo hình thức tự làm cao hơn so với nhóm có trình độ đại học trở lên, lao động chưa qua đào tạo chiếm 51,1%, lao động được đào tạo nhưng không có chứng chỉ có tỷ lệ là lao động tự làm chiếm tỷ lệ 50,0%. Lao động tự làm và lao động làm công ăn lương là hai hình thức việc làm phổ biến nhất đối với cả ba khu vực. Địa bàn làm việc của đa số người lao động là ở tại địa phương. 86% lao động làm việc tại xã. Tỷ lệ lao động làm việc ngoài tỉnh là 5,2%, ngoài huyện là 2,6% và ngoài xã là 6,2%.

Kết quả nghiên cứu cho biết, có 26,5% doanh nghiệp trong mẫu phỏng vấn có nhu cầu tuyển dụng. Các ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng tập trung vào lao động tự do, công nghệ sinh học, kinh tế, tài chính ngân hàng,… Số lượng lao động có nhu cầu tuyển dụng dao động từ 1 đến 150 người tùy từng doanh nghiệp, tính trung bình mỗi doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng 19 lao động/ doanh nghiệp. Phần lớn doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động dài hạn. Về nhu cầu trình độ lao động mà doanh nghiệp muốn tuyển dụng, nhìn chung các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động ở trình độ bậc trung. Có 31,7% doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động ở trình độ cao đẳng – đại học. Có 35,9% doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động ở trình độ trung học phổ thông. Tỷ lệ các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động ở trình độ trung học cơ sở là 20,2%. Các yếu tố mà doanh nghiệp quan tâm đến nhiều hơn cả là: kỹ năng chuyên môn, hình thức, sức khỏe và kinh nghiệm thực tiễn.

Năm là, kết quả nghiên cứu mẫu đại diện hộ gia đình cũng đã chỉ ra những yếu tố tác động đến các yếu tố có khả năng tác động tới hiệu suất lao động gồm có: địa bàn sinh sống, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, hình thức làm việc. Cụ thể, khả năng cuộc sống hộ gia đình được cải thiện ở khu vực biên giới thấp hơn so với khu vực thành thị, trong khi đó khu vực nông thôn dường như có sự cải thiện về hiệu suất lao động tốt hơn. Kết quả mô hình hồi quy tiếp tục khẳng định tác động của yếu tố được đào tạo tới khả năng làm tăng hiệu suất lao động. Càng được đào tạo về chuyên môn, khả năng cải thiện về hiệu suất lao động càng lớn. Điều đó gợi ra rằng các chính sách đào tạo nghề cần tiếp tục phát triển để thúc đẩy chất lượng nguồn lao động nông thôn

Sáu là, dự báo đến 2025 trung bình hàng năm số lượng lực lượng lao động khu vực nông thôn của Tỉnh tăng thêm khoảng gần 16.000 người. Theo nhóm tuổi, năm 2019, LLLĐ thanh niên (từ 15-29 tuổi) có 209.976 người, giảm hơn 6.000 người so với năm 2025 (203.599 người); LLLĐ trung niên (30-59 tuổi) có 599.746 người, tăng hơn 77.510 người vào năm 2025 (677.256 người); LLLĐ cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) có 76.555 người, đến năm 2025 tăng thêm 30,3% so với năm 2019.

Bảy là, dự báo về chất lượng lao động dân số không có trình độ chuyên môn kỹ thuật và ở trình độ sơ cấp nghề giảm dần từ 976.353 người năm 2019 còn 903.473 người vào năm 2025. Trong khi đó, dân số từ 15 tuổi trở lên ở khu vực nông thôn có trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học trở lên đều có xu hướng tăng trong giai đoạn này. Trung cấp từ 16.403 người năm 2019 tăng 17.415 vào năm 2025. Cao đẳng từ 10.252 người tăng 13.509 người vào  năm 2025 và Đại học trở lên từ 52.723 người năm 2019 tăng 115.290 người vào năm 2025.

Đối với lực lượng lao động phân theo trình độ CMKT, kết quả dự báo theo chuyên môn kỹ thuật, lực lượng lao động không có chuyên môn kỹ thuật và ở các cấp trình độ (sơ cấp nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên) đều có xu hướng tăng trong giai đoạn 2019-2025. Cụ thể, lực lượng không có chuyên môn kỹ thuật từ 817.099 người năm 2019 tăng 872.314 người vào năm 2025. Ở các trình độ sơ cấp nghề từ 13.386 người tăng 21.374 người vào năm 2025, trung cấp    từ 20.908 người tăng 30.728 vào năm 2025; Cao đẳng từ 9.774 người tăng 15.143 người vào năm 2025 và đại học trở lên từ 25.109 người tăng 41.059 người vào năm 2025.

Tám là, dự báo việc làm theo 3 nhóm ngành, đến năm 2025 việc làm ở khu vực nông thôn của tỉnh trong nhóm ngành nông lâm và thủy sản tiếp tục giảm cả về số lượng và cơ cấu, cụ thể giảm từ 373.846 người vào năm 2019 xuống còn 345.067 người vào 2025; việc làm trong ngành công nghiệp – xây dựng có xu hướng tăng từ 195.705 người năm 2019 lên 302.811 người và việc làm trong ngành dịch vụ có xu hướng tăng nhẹ từ 313.127 người năm 2019 lên 326.439 người năm 2025.

Dự báo việc làm theo nghề, đến năm 2025 ở khu vực nông thôn của tỉnh, lao động ở vị trí giản đơn giảm cả số lượng và tỷ trọng, từ 198.772 người vào năm 2019 xuống còn 191.479 người vào năm 2025; lao động ở nghề “các nhà quản lý trong các ngành, các cấp” sẽ là 3.977 người vào năm 2025; lao động có chuyên môn kỹ thuật bậc cao cũng tăng từ 29.921 người năm 2019 lên 42.901 người vào 2025, tuy nhiên lao động có chuyên môn kỹ thuật bậc trung lại giảm một nửa từ 8.964 người năm 2019 xuống còn 5.242 người năm 2025.

Theo vị thế công việc, lao động làm chủ cơ sở hoặc tự làm, lao động gia đình giảm trong giai đoạn 2019-2025 và tăng nhẹ số lượng lao động làm công hưởng lương. Dự báo đến năm 2025, số lao động làm chủ cơ sở ở khu vực nông thôn của tỉnh là 9.060 người giảm một nửa so với năm 2019; con số tương tự với lao động tự làm, lao động gia đình là 557.007 người, tăng nhẹ so với 2019 (523.534 người) và lao động làm công hưởng lương là 408.250 người, tăng so với 2019 (340.808 người).

Theo hình thức sở hữu, đại đa số lao động ở khu vực nông thôn của tỉnh làm việc trong các hộ gia đình, hộ kinh doanh cá thể (chiếm 81,3% năm 2025); tiếp theo là lao động làm trong khu vực tập thể - tư nhân (chiếm 9,5% năm 2025); cuối cùng là lao động làm trong khu vực nhà nước (chiếm 5,7% năm 2025) và làm trong các doanh nghiệp có vốn đầu từ nước ngoài (chiếm 3,5% năm 2025).

Kết quả dự báo cho thấy, xu hướng về tăng nhu cầu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT) và cả lao động chưa qua đào tạo (chưa qua đào tạo, công nhân kỹ thuật (CNKT) không bằng, kỹ năng nghề, chứng chỉ nghề dưới 3 tháng). Cầu về lao động ở trình độ từ đại học trở lên tăng cả về số lượng và tỷ trọng, năm 2019 nhu cầu về nhóm này cần 24.511 người và tăng lên 39.704 người vào 2025. Cầu về lao động chưa qua đào tạo cũng tăng về số tuyệt đối từ 814.629 người năm 2019 lên 868.566 người năm 2025.

Chín là, dự báo nhu cầu lao động, sử dụng lao động của doanh nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh đến năm 2025, tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh là 67.266 người, bình quân mỗi năm tăng khoảng 2,31%. Lao động trong hầu hết các nghề đều có xu hướng tăng đến năm 2025, tuy nhiên có 2 nghề có hướng giảm việc làm là lao động chuyên môn kỹ thuật bậc cao\bậc trung (năm 2025 có 7.803 lao động so với năm 2019 là 8.291 người) và lao động có kỹ năng trong lĩnh vực phi nông nghiệp (năm 2025 có 2.207 lao động so với năm 2019 là 4.346 người). Đặc biệt, đối với lao động có kỹ năng trong nông nghiệp, bình quân mỗi năm tăng khoảng 300 người (trung bình quân khoảng 7,9%/năm) trong giai đoạn 2019-2025.

Dự báo theo lĩnh vực đào tạo, đến năm 2025 số người làm việc trong doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thuộc lĩnh vực đào tạo kinh tế -xã hội là 11.932 người; khoa học tự nhiên là 3.729 người; kỹ thuật và công nghệ là 15.633 người; nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và thú y là 8.651 người; Y tế, môi trường và các dịch vụ khác là 8.860 người và lao động chưa qua đào tạo là 18.461 người. Theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, dự báo đến năm 2025, số lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 20.328 người, tăng khoảng 2.000 người so với năm 2019 (18.477 người). Lao động có trình độ cao từ đại học trở lên cũng có xu hướng tăng nhẹ lên 10.894 người năm 2025.

Dự báo nhu cầu sử dụng lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong các năm tới cho thấy, đến năm 2025 doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động cao gấp 2 lần so với năm 2019 (23.548 người so với 12.592 người). Trong đó, nhu cầu lao động không có trình độ CMKT là 7.383 người; nhu cầu lao động có trình độ công nhân kỹ thuật không bằng là 4.803 người; đào tạo thường xuyên là 2.770 người, sơ cấp nghề là 4.520 người; trung cấp là 1.144 người, cao đẳng là 967 người và trình độ đại học trở lên là 1.961 người.

Mười là, dự báo tổng số việc làm ở khu vực nông thôn của tỉnh sẽ có xu hướng tăng trong giai đoạn 2019 - 2025, bình quân mỗi năm tăng khoảng 13.000 việc làm. Theo nhóm tuổi, tất cả lao động trong độ tuổi trẻ và trung niên từ 15 đến 24 tuổi có xu hướng giảm việc làm ở khu vực nông thôn, tuy nhiên nhóm trung niên và tuổi già có xu hướng tăng việc làm (nhóm tuổi 45-49 tăng từ 105.679 người năm 2019 lên 121.603 người năm 2025; con số tương tự với nhóm tuổi 50 - 54 là 89.222 người và 125.438 người). Đây là một thách thức trong việc đảm bảo việc làm an ninh, linh hoạt cho người cao tuổi trên địa bàn khu vực nông thôn của tỉnh.

Kết quả mô hình cũng đã tư vấn cho hơn 800 học sinh và người lao động, thông qua khảo sát nhu cầu 300 lao động và học sinh, nhóm nghiên cứu đã hoàn thành các mục tiêu của tập huấn, đào tạo của mô hình, trong đó, thực hiện 02 mô hình Tập huấn kỹ thuật sản xuất kinh doanh trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở Tịnh Biên cho 20 lao động; Mô hình 2 là đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp và nhu cầu người lao động ở 2 huyện An Phú và Châu Phú (41 lao động). Kết quả 79 lao động nông thôn được tư vấn và đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp và nhu cầu người lao động, trong đó, có 21 lao động học nghề ngắn hạn tại An Phú; 58 lao động được tư vấn hướng nghiệp và chuyển đến Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật tỉnh An Giang để học nghề, Có 20/20 người lao động được nhóm nghiên cứu cùng trường nghề tư vấn thông tin chương trình đào tạo cụ thể của từng ngành trong đó có 12 lao động học ngành trồng trọt, 5 lao động học ngành bảo vệ thực vật, 02 lao động học kế toán doanh nghiệp và 01 lao động học tin học văn phòng.

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn về hiện trạng phát triển nguồn lao động và sử dụng, phân công, phân bố lao động đối với cộng đồng dân cư khu vực nông thôn tỉnh An Giang và  xây dựng mô hình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nghiên cứu đã đề xuất giải pháp phát triển nguồn lao động, sử dụng và phân công, phân bố lao động đối với cộng đồng dân cư khu vực nông thôn trên địa bàn An Giang. Các giải pháp được đề xuất tập trung ở 2 nhóm giải pháp:

Một là nhóm giải pháp phát triển nguồn lao động ở khía cạnh cung lao động trong bối cảnh hội nhập trên địa bàn tỉnh An Giang với các giải pháp về giáo dục – Đào tạo; Giải pháp về khoa học và công nghệ trong phát triển nguồn lao động nông thôn; Giải pháp về cơ chế chính sách của nhà nước trong phát triển nguồn lao động nông thôn. Tập trung vào một số giải pháp chủ yếu như: tỉnh cần có định hướng thực hiện các chính sách can thiệp trong việc tăng tỷ lệ nhập học đúng tuổi và phổ cập giáo dục tiểu học, THCS đối với nhóm dân tộc Khmer, Chăm vùng Tịnh Biên, Tri Tôn, An Phú và nhóm phụ nữ có tỷ lệ nhập học bậc tiểu học và THCS thấp ở các khu vực nông thôn An Giang nhằm giúp người nông dân nâng cao năng suất, đồng thời tăng cường bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục.

Xây dựng cơ chế đào tạo và sử dụng hợp lý với từng nhóm lao động cụ thể để tạo được động lực cho lực lượng này làm trụ cột dẫn dắt nền kinh tế phát triển đúng hướng, cạnh tranh và hiệu quả… 

Hai là, nhóm giải pháp phát triển nguồn lao động ở khía cạnh cầu lao động với các giải pháp về Qui mô cơ cấu, giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn lao động, giải pháp về sử dụng hiệu quả nguồn lao động, giải pháp về chính sách sử dụng nguồn lao động ở khu vực nông thôn, giải pháp nâng cao năng suất lao động. Trong đó: Cần xác định tập trung vào mục tiêu tăng tỉ lệ lao động qua đào tạo, tăng cường các chương trình hỗ trợ giúp các hoạt dộng khởi nghiệp phát triển và mở rộng tại khu vực nông thôn. Trong đó, công tác đào tạo nghề, đào tạo lại cho người lao động cần được xem như khâu đột phá trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn của tỉnh và chuyển mạnh hình thức đào tạo nghề theo năng lực sẵn có của các cơ sở đào tạo sang đào tạo theo nhu cầu học nghề của lao động là một giải pháp căn cơ cho việc phát triển thị trường lao động tại An Giang.

 Cần đẩy mạnh thu hút đầu tư doanh nghiệp tại các địa phương trong đào tạo lao động nông thôn. Doanh nghiệp cần 5 đồng hành với các cơ sở đào tạo: Tham gia đầu tư, mở trường; đặt hàng; tham gia giảng dạy, đào tạo; thẩm định đầu ra; tuyển dụng. Đặc biệt, cần quy hoạch, phát triển đô thị ở khu vực nông thôn nên là định hướng ưu tiên đối với quá trình đổi mới cơ cấu lao động nông thôn.

Việc xem xét lại cơ cấu lao động của các ngành kinh tế trong tỉnh rất cần thiết, bên cạnh có các chương trình hành động cụ thể khuyến khích các hộ kinh doanh cá thể phát triển thành doanh nghiệp, cần tập trung tạo việc làm tại khu vực nông thôn, nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn cho lực lượng lao động trong độ tuổi thanh niên ngay từ trên ghế nhà trường nhằm cải thiện tình hình phân bổ cơ cấu lao động giữa các ngành nghề.

Đối với các nhóm ngành nông nghiệp và công nghiệp chế biến, chế tạo,và dịch vụ, trong thời gian tới tỉnh cần chú trọng lao động dịch chuyển từ nhóm ngành có NSLĐ thấp (nông nghiệp) sang nhóm ngành có NSLĐ cao hơn (công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ) có thể đảm nhiệm công việc tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn thông qua các chính sách việc làm, các chính sách khuyến khích đổi mới,sáng tạo về cải tiến kỹ thuật trong sản xuất, áp dụng công nghệ 4.0 để nâng cao NSLĐ trong các ngành là rất cần thiết trong quá trình nâng cao chất lượng nguồn lao động An Giang đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Cần có giải pháp khuyến khích doanh nghiệp sắp xếp lại để có quy mô lao động tối ưu nhằm đạt được năng suất lao động cao nhất và để nâng cao NSLĐ trong các doanh nghiệp và chú trọng yếu tố tăng năng suất nội ngành bởi yếu tố này đóng vai trò chủ đạo trong việc tăng năng suất nền kinh tế của tỉnh, do đó, nên có một chương trình tổng thể mang tính chiến lược toàn diện để hỗ trợ sự chuyển dịch giữa các ngành. Chuyển dịch cần phù hợp với nguồn nhân lực, nắm bắt nhu cầu lao động của từng ngành (kỹ năng, về hành vi thái độ). Cần chú trọng nhu cầu lao động các nhóm ngành chế biến, chế tạo, và dịch vụ và thông tin về liên kết giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo.

Cần có sự phối hợp đồng bộ của các ngành hướng đến sử dụng tận dụng sự phát triển của công nghệ 4.0 để phát triển công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp và đào tạo nghề như: mở lớp đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn kỹ thuật thu thập thông tin trên MXH (facebook, youtube): triển khai máy móc thông tin, khai thác thông tin trên mạng cho nông dân ở khu vực nông thôn. Xây dựng sản phẩm truyền thông hướng dẫn người dân lập nghiệp và hướng dẫn sản xuất, thông qua mạng facebook và youtube. Thông báo các đường dẫn cho người dân để người dân dễ dàng tiếp cận. Đây cũng là điều kiện rút ngắn sự tiếp cận công nghệ, kỹ thuật giữa nông dân với cán bộ kỹ thuật.